Sạt lở bờ biển: Hiện trạng - Nguyên nhân - Giải pháp

Với đường bờ biển dài 3.260km từ Bắc vào Nam, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phải đối diện với hiện tượng bờ biển đang bị xói lở với cường độ mạnh, mực nước biển ngày một dâng cao hơn khiến cho hiện tượng nước biển xâm thực diễn ra rất mạnh, gây ảnh hưởng đến diện tích nông nghiệp và đời sống của người dân.

Sạt lở bờ biển là hiện tượng mất ổn định và chuyển dịch khối đất, đá tự nhiên của bờ biển, đảo do tác động của các yếu tố chấn động địa chất, mưa lớn, dòng chảy, sóng, biến đổi mực nước và các biến đổi khác gọi chung là sạt lở.

Sạt lở thường xảy ra nhanh và đột ngột tại các vách bờ, dọc các bờ biển bị xói lở và được báo trước bằng các vết nứt ăn sâu vào đất liền, kéo dài theo bờ sông, bờ biển. Sạt lở thường có xu hướng tái diễn nhiều năm, phạm vi ảnh hưởng rộng, đe dọa phá hỏng cả cụm dân cư, đặc biệt là cụm dân cư kinh tế lâu năm ở các vùng đồng bằng và ven biển.

Hiện trạng sạt lở bờ biển

Theo dự báo của Viện Địa lý, bờ biển miền Trung với trên 70% đất có thành phần đặc biệt và là đất bở rời, đồng thời, do các biến động bất thường về khí tượng thủy văn, tác động của con người,… sẽ xảy ra sạt lở với quy mô và mức độ ngày càng mạnh. Khu vực từ Quãng Bình đến Thừa Thiên Huế vẫn là trọng điểm, bờ biển Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có diễn biến sạt lở rất phức tạp với xu thế tăng mạnh cả về quy mô lẫn cường độ và tăng dần từ Bắc vào Nam (sạt lở tại Sa Huỳnh tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục tăng quy mô về phía Tây Nam).

Vùng bờ Cà Ná - Mũi La Gàn, thảm thực vật có độ phủ không đồng nhất, quá trình bào mòn xảy ra phổ biến trên nhiều đoạn bờ biển với cường độ trung bình 5-7m/năm. Tại khu vực Phước Thể quá trình xói lở diễn ra thường xuyên với tốc độ trung bình 10-12m/năm, biển lấn vào đất liền 30-40m, đã phá hủy hàng chục ngôi nhà và đe dọa hàng trăm ngôi nhà khác.

Tại khu du lịch Hòn Rơm (vùng bờ mũi Hòn Rơm - Mũi Né) quá trình xói lở và bồi tụ diễn ra đan xen nhưng quá trình xói lở chiếm ưu thế. Tốc độ xói lở trung bình từ 3-5m/năm, có đoạn 15-20m/năm, đi sát vào chân kè ở các khu du lịch. Dấu tích còn lại là các giếng còn sót lại trên bãi triều.

Vùng bờ Mũi Né - Cửa Phú Hài có thành phần vật liệu bờ chủ yếu là cát hạt trung nhỏ lẫn vỏ vụn sinh vật, mép nước chủ yếu là xác sinh vật và sa khoáng. Đoạn bờ này có quá trình xói lở chiếm ưu thế, tốc độ xói lở trung bình hàng năm 3-5m/năm. Do ảnh hưởng chủ yếu là sóng tác động gần như vuông góc với bờ, quá trình xói lở diễn ra gần như thường xuyên. Để chống chọi với nạn biển xâm thực, tỉnh Bình Thuận đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng kè dọc theo một số khu vực. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, việc làm này có mặt trái, do hiện nay dọc bờ biển Phan Thiết chỗ nào xây kè thì không giữ được bãi tắm.

Hiện tượng xói lở xảy ra trên hầu hết đoạn bở biển tỉnh Tiền Giang khu vực Gò Công Đông trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 2000, tốc độ xói lở khoảng 10-30m/năm tùy theo vị trí, theo thời gian mức độ xói lở ngày càng nhanh hơn. Hệ quả là rừng trước tuyến đê biển đã bị thu hẹp dần, năm 2000 đã có trên 3km thuộc khu vực xã Tân Thành rừng đã biến mất hoàn toàn, biển xâm thực vào đến tận chân đê. Những năm gần đây, tuyến đê xung yếu không có rừng phòng hộ phải đương đầu trực diện với biển liên tục dài thêm ra.

Hàng năm, vào mùa gió chướng (từ tháng 10 đến tháng 12), những cơn sóng biển ngày đêm thay nhau bào mòn từ 7-10m đất dọc bờ biển tỉnh Bến Tre. Các đoạn bờ biển ở Cồn Lợi, cồn Bửng không những đất bị cuốn ra biển, những hàng dương chắn sóng, chống xói mòn cũng không chịu được sức gió,… Triều cường làm nước biển dâng, gây sạt lở với tốc độ ngày càng nhanh đã đe dọa cơ sở hạ tầng ven biển và hoa màu của hàng trăm hộ dân xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, trong 5 năm qua đã có đến 9km  bờ biển bị sạt lở, đoạn sạt lở nghiêm trọng nhất dài khoảng 2km từ bãi tắm Tây Đô tới hợp tác xã Thanh Bình.

Dải ven biển tỉnh Trà Vinh nằm giữa cửa sông Cổ Chiên và cửa Định An (sông Hậu), có dạng hình cung với chiều dài trên 50km. Đây là vùng ngập mặn thường xuyên với nhiều sông rạch đổ ra biển tạo ưu thế lớn trong việc nuôi trồng thủy sản và phát triển rừng ngập mặn. Đoạn bờ từ cửa Cung Hầu đến xã Dân Thành, thị xã Duyên Dải dài khoảng 25km thường xuyên bị biển xâm thực. Từ năm 1965-1989 biển đã lấn vào đất liền khoảng hơn 200m, trong đó có 2 khu vực sạt lở mạnh là bờ biển Hiệp Thạnh dài khoảng 4km bị sạt lở với tốc độ 8-10m/năm và khu vực bờ biển Nhà Mát cách cửa Cung Hầu khoảng 8km, bị sạt lở với tốc độ khoảng 15-20m/năm. Trong giai đoạn 1989-2001, đoạn bờ này tiếp tục bị sạt lở, tốc độ dịch chuyển đường bờ khoảng 10m/năm, trong đó khu vực bờ biển Hiệp Thạnh có tốc độ sạt lở mạnh hơn rất nhiều so với giai đoạn trước, vào khoảng hơn 20m/năm. Đoạn bờ từ xã Dân Thành đến cửa Định An chủ yếu được bồi tụ, tốc độ bồi lớn nhất tại khu vực bờ Bắc cửa Định An khoảng 40m/năm. Bên cạnh đó có vài vị trí bị xói lở với mức độ nhẹ khoảng 3-5m/năm. Riêng tại bờ Bắc cửa Định An dài khoảng hơn 2km được bồi lấp khá mạnh với tốc độ khoảng 50m/năm.

Sạt lở bờ biển tại tỉnh Trà Vinh

Bờ biển tỉnh Sóc Trăng từ Cù Lao Dung, cửa Mỹ Thanh đến Bạc Liêu tương đối thẳng, quá trình diễn biến đường bờ khá phức tạp, xói bồi xen kẽ nhau. Theo kết quả phân tích ảnh viễn thám của Trung tâm Kỹ thuật Môi trường (CCE) năm 2009, bản đồ của các giai đoạn 1965:1990, 2000, 2008 cho thấy đường bờ biển của tỉnh Sóc Trăng có nhiều biến động với 3 quá trình: bồi tụ, xói lở và bồi tụ/xói lở xen kẽ nhau. Từ năm 1965-1989, đoạn bờ từ cửa Mỹ Thanh kéo dài về phía Nam khoảng 17km, vị trí bồi lớn nhất khoảng 1.300m, vị trí lở lớn nhất khoảng 400m; đoạn bờ kế tiếp thuộc xã Vĩnh Bình có hiện tượng bồi lấp là chủ yếu nhưng với tốc độ chậm khoảng 5m/năm, riêng đoạn bờ thuộc ấp Biển Trên thị trấn Vĩnh Châu được bồi lấp với tốc độ khoảng 15m/năm; đoạn bờ kế tiếp đến giáp ranh Bạc Liêu chủ yếu bị biển xâm thực với chỗ xói lớn nhất là 320m, tốc độ khoảng hơn 10m/năm. Từ năm 1989-2008, đoạn bờ từ thị trấn Vĩnh Châu đến giáp ranh tỉnh Bạc Liêu lại bị xói lở với tốc độ khoảng 10m/năm, đường bờ biển lấn vào khoảng 250m.

Tỉnh Bạc Liêu với chiều dài bờ biển khoảng 56km, ven bờ có các giồng cát cao độ từ 1,5-3,0m. Nhìn chung, đường bờ biển ở Bạc Liêu trong giai đoạn từ năm 1965-2008 có xu thế bồi lấn ra biển, ngoại trừ hai khu vực bị xói lở là đoạn bờ giáp ranh tỉnh Sóc Trăng dài khoảng 6km và đoạn bờ khu vực cửa sông Gành Hào (giáp ranh tỉnh Cà Mau) dài khoảng 9km.

Dải ven biển tỉnh Cà Mau có chiều dài khoảng 254km được chia thành hai đoạn: đoạn từ sông Gành Hào đến mũi Cà Mau dài khoảng 100km, giáp biển Đông, đường bờ có dạng hình răng cưa và đoạn từ mũi Cà Mau đến rạch Tiểu Dừa dài khoảng 154km phía biển Tây. Theo thống kê của tỉnh Cà Mau (2013), tổng chiều dài sạt lở ven biển đã trên 40km, trong đó có 4 khu vực sạt lở nguy hiểm dài trên 17km thuộc các khu vực đê biển Tây, cửa biển Gành Hào huyện Đầm Dơi, Khu Dự trữ sinh quyển mũi Cà Mau và bãi biển Khai Long. Mức độ sạt lở trong 5 năm qua, có nơi biển đã ăn sâu vào đất liền hơn 100m. Điển hình, phần lớn diện tích rừng ven biển huyện U Minh đã bị sóng biển Tây xóa sổ, có nơi biển lấn sâu vào đất liền gần 1km.

Khu vực bờ biển tỉnh Kiên Giang chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Tây và Vịnh Thái Lan, tạo ra dải ven biển khá ổn định và có xu thế bồi lắng là chính. Từ năm 1965-2008, bờ biển Kiên Giang được bồi lấp từ 5-10m/năm, trong đó vị trí bồi lớn nhất là khu vực giáp ranh giữa huyện An Minh và An Biên, trong vòng 43 năm, khu vực này đã được bồi ra khoảng 2km, tốc độ bồi gần 50m/năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã xảy ra tình trạng xói lở bờ biển uy hiếp đến sự an toàn của tuyến đê biển. Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang năm 2013, hiện có hơn 70km, chiếm 34% chiều dài bờ biển đã và đang bị xói lở, nhất là tốc độ xói lở bờ biển tại một số khu vực ở huyện Hòn Đất nghiêm trọng đến mức báo động, khoảng 26m/năm.

Nguyên nhân sạt lở bờ biển

Xói lở bồi tụ dải ven biển là một quá trình tự nhiên phức tạp, là hệ quả tương tác giữa rất nhiều yếu tố. Trong đó, các yếu tố tác động đến quá trình xói lở bồi tụ được phân làm 2 nhóm là: các yếu tố tự nhiên và tác động của con người.

Nguyên nhân ngoại sinh: những nhân tố tự nhiên không thể bỏ qua trong việc hiểu và nhận diện vấn đề xói lở bờ biển bao gồm:

-  Cấu tạo vùng bờ, hướng bờ: Các thành trầm tích phù sa cổ khi được lớp thảm thực vật phủ dày, trong điều kiện môi trường ẩm ướt cao thì độ dẻo và độ kết dính tốt, còn những nơi thảm thực vật thưa thớt hoặc không có thảm thực vật che phủ, khi bị phơi nắng thiếu nước thường xuyên, chúng mất nước dần, co rút lại, hậu quả là bị nứt nẻ, trở nên khô xốp và khi thấm nước trở lại chúng bị bở rời, tơi vụn ra. Khi đó chỉ cần động lực rất nhỏ (sóng gió), chúng đã bị nước làm dịch chuyển và mang đi. Đây là một điều kiện thuận lợi để quá trình xói lở bờ diễn ra mạnh mẽ.

-  Sóng: Sóng có thể do gió hay do tàu thuyền đi lại trên sông gây ra, sóng do gió gây ra sạt lở bờ thường xảy ra ở các vùng cửa sông, nhất là mùa gió chướng. Quá trình hoạt động của sóng, sóng vỡ cũng như sóng vỗ bờ, làm cuộn lên cuốn theo phù sa, cát rồi đẩy ra xa theo chiều sóng lùi. Đây là tác nhân chính đào xới, mài mòn, phá vỡ kết cấu bề mặt đáy bờ, sau đó, kéo theo hiện tượng lở hay tạo nên vách bờ cao dần.

-  Gió: Chế độ gió trong biển Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm hình thành 2 mùa gió chính: gió mùa Đông (tháng 12-4 năm sau) và gió mùa Hạ (tháng 5-9). Gió mùa Đông có hướng gió chính Đông – Đông Bắc, hướng gió gần như trực diện với đường bờ biển phía Biển Đông nên có thể xác định gió mùa Đông Bắc là hướng gió chi phối chính đến quá trình xói lở của bờ biển trong khu vực. Sóng gây ra bởi gió mùa Đông Bắc đào xới phần lớn bùn cát được bồi tụ trong mùa gió Tây Nam cũng như bào mòn các vách bờ không được bảo vệ bởi thảm thực vật, tạo ra dòng chảy ven bờ, cùng với dòng triều và dòng hải lưu vận chuyển bùn cát về phía Nam.

-  Tác động của dòng chảy: Dòng chảy bao gồm dòng hải lưu trong vịnh và dòng chảy từ các cửa sông chảy ra biển ven bờ. Khi dòng chảy có vận tốc lớn hơn vận tốc khởi động bùn cát của lòng dẫn sẽ làm cho lòng dẫn bị đào xới, khối đất phản áp của mái bờ bị suy giảm dần. Đến một thời gian nhất định mái bờ sẽ bị mất ổn định và sạt lở sẽ xảy ra. Xói lở dạng này thường xảy ra vào thời gian đầu mùa mưa, thời điểm mực nước cạn kiệt. Các đợt sạt lở xảy ra ngắt quãng và có chu kỳ dài hơn so với sạt lở do sóng thuyền bè gây ra. Tuy nhiên khối đất mỗi một đợt sạt lở thường lớn và nguy hiểm hơn.

-  Ảnh hưởng của thủy triều: Khu vực Biển Đông chịu chi phối bởi chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều lớn khoảng 2-4m nên tốc độ truyền triều rất nhanh, tạo ra vận tốc dòng chảy lớn, đặc biệt tại các vùng cửa sông, gây ra xói lở đáy biển. Với đặc điểm này nên các quá trình thành tạo bờ biển trong khu vực chịu tác động của sông - triều rất rõ rệt. Ngoài ra, phần lớn bờ biển trong khu vực rất thoải, kết hợp với chế độ triều có biên độ lớn và thay đổi nhiều lần trong ngày nên phạm vi tác động của sóng - triều lên vùng bờ rất rộng. Chế độ triều Biển Tây chịu chi phối bởi chế độ nhật triều là chính, biên độ triều thấp hơn nhiều so với triều Biển Đông, khoảng 0,8-1,2m. Tuy nhiên, do bờ biển rất thoải, hầu như bằng phẳng nên vùng bờ chịu ảnh hưởng của sóng - triều cũng rất rộng. Do trong khu vực này không có các cửa sông lớn nên nhân tố động lực chiếm ưu thế trong quá trình thành tạo bờ biển là thủy triều và sóng. 

Tác động của con người: Tác động lớn nhất của con người lên quá trình xói lở và bồi tụ bờ biển đầu tiên phải kể đến những hoạt động làm ảnh hưởng đến rừng ngập mặn.

Rừng ngập mặn có vai trò vô cùng quan trọng về mặt sinh thái và môi trường và cũng là một trong những yếu tố chính điều phối quá trình thành tạo bờ biển. Giữa rừng ngập mặn và quá trình xói lở, bồi tụ có một mối quan hệ rất chặt chẽ. Rừng ngập mặn có tác dụng làm giảm năng lượng sóng nhờ bộ rễ khỏe, chằng chịt, làm năng lượng sóng giảm và đi đến triệt tiêu. Điều đó, tạo điều kiện thuận lợi để bùn, cát tích tụ nhanh và nhiều hơn, đồng thời làm bùn, cát cố kết tốt hơn, chống xói lở. Lá cây rừng cũng là nguồn trầm tích đáng kể cho bờ biển. Rừng ngập mặn giúp cho tiến trình bồi tụ phát triển nhanh hơn, ngược lại, quá trình bồi tụ nhanh giúp cho rừng ngập mặn phát triển tốt. Một khi rừng ngập mặn bị suy thoái và không thể tự hồi phục, quá trình xói lở sẽ xảy ra và tiếp diễn liên tục.

Theo thống kê của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng II, diện tích rừng ngập mặn khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã giảm từ 250.000 ha năm 1950 xuống còn 45.790 ha năm 2002. Đặt biệt việc khai thác quá mức nhất là nạn chặt phá rừng tràn lan để nuôi trồng thủy sản trong những thập kỷ gần đây đã làm suy thoái nghiêm trọng rừng ngập mặn. Việc nuôi trồng thủy sản kết hợp với các công trình ngọt hóa đã làm thay đổi môi trường cũng như hạn chế không gian phát triển rừng ngập mặn. Hậu quả không chỉ làm mất cân bằng sinh thái mà còn làm mất cân bằng địa động lực vùng bờ gây xói lở nghiêm trọng ở nhiều nơi.

Khi đai rừng phòng hộ tiên phong ngoài cùng bị suy thoái thì quá trình xói lở sẽ diễn ra. Khi đó, nếu điều kiện môi trường thay đổi cũng như không gian bị hạn chế mà đới rừng tiên phong không thể tái sinh được thì xói lở sẽ làm suy thoái các đới rừng kế tiếp. Quá trình xói lở bờ - suy thoái rừng như vậy sẽ diễn ra liên tục với tốc độ ngày càng nhanh.

Các hoạt động xây dựng nhà cửa, kho tàng, nhà hàng và lập các bến bãi vật liệu xây dựng,… làm gia tăng tải trọng trên nền đất yếu dẫn đến nguy cơ sạt lở.

Việc xây dựng các công trình bảo vệ bờ tự phát không theo quy định chung, không đúng yêu cầu kỹ thuật và không được cấp có thẩm quyền cho phép.

Ảnh hưởng của việc xây dựng cảng biển, cảng cửa sông mới, nạo vét luồng chạy tàu,… không tuân thủ theo quy trình, theo lưu vực thoát nước.

Các cây cỏ mọc dọc bờ, mép sông có tác dụng  chắn sóng, ổn định bờ do nhiều nguyên nhân khác nhau bị phá hoại, chết, cuốn trôi,…

Giải pháp hạn chế hiện tượng sạt lở ven biển

Sạt lở đất ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, làm mất đi nơi sinh sống của những loài bản địa thuộc các vùng cửa sông và các rừng ngập mặn ven biển; làm mất đất canh tác, gây ra những thiệt hại không nhỏ, tạo ra những khó khăn trong khâu quy hoạch phát triển công trình ven biển; ảnh hưởng lớn đến các công trình xây dựng ven sông, ven biển, gây thiệt hại về tài sản, tính mạng của con người và đôi khi gây bất an trong dư luận. Do đó, những giải pháp khoa học và công nghệ phòng chống sạt lở bờ biển bao gồm:

Hạn chế phá rừng phòng hộ, khôi phục thảm thực vật ven bờ biển. Quản lý chặt các hoạt động của người dân địa phương vì lợi nhuận trước mắt làm mất đi diện tích rừng, cấm phá rừng để nuôi trồng thủy sản.

 Tổ chức theo dõi diễn biến sạt lở bờ biển, cửa sông về qui mô, cường độ, hướng dịch chuyển theo định kỳ: hàng năm, hàng tháng, ngày giờ và không theo định kỳ với các tình huống bão, lũ xảy ra. Xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm soát sạt lở, theo địa bàn huyện, tỉnh bao gồm cả bản đồ hiện trạng, bản đồ dự báo, cảnh báo khả năng sạt lở cửa sông.

Trồng rừng ngập mặn chống sóng, giữ cát ở phía ngoài bãi biển.

   

Trồng rừng ngập mặn và xây dựng đê kè hạn chế sạt lở bờ biển

Tổ chức theo dõi diễn biến sạt lở bờ biển, cửa sông về qui mô, cường độ, hướng dịch chuyển theo định kỳ: hàng năm, hàng tháng, ngày giờ và không theo định kỳ với các tình huống bão, lũ xảy ra. Xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm soát sạt lở, theo địa bàn huyện, tỉnh bao gồm cả bản đồ hiện trạng, bản đồ dự báo, cảnh báo khả năng sạt lở cửa sông.

 Thông tin cảnh báo, dự báo phải được thông báo kịp thời giữa người dân và cơ quan quản lý khi có hiện tượng sạt lở.

 Tổ chức di dời dân cư ra khỏi khu vực nguy hiểm dưới các hình thức di dời vĩnh viễn theo kế hoạch quy hoạch, di dời tạm thời khi có cảnh báo và di dời khẩn cấp khi có cấp báo.

 Giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về tác hại và các giải pháp phòng chống sạt lở.

 Nuôi bãi nhân tạo bằng cách đưa cát từ nơi khác (từ các bãi bồi cửa sông) đến bồi đắp vào bãi bị xói.

 Đê chắn sóng từ ngoài bờ và song song với đường bờ dạng đê nhô hoặc đê ngầm.

 

Ngoài ra, để hạn chế sạt lở bờ biển cần có những giải pháp đồng bộ và tổng hợp. Trong đó, chú trọng những giải pháp hợp tác quản lý tài nguyên bền vững; quản lý tổng hợp vùng ven biển và rừng ngập mặn. Đặc biệt, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ vùng biển./.

H.N.Hiền - CCCO.


CLIP TUYÊN TRUYỀN

LIÊN KẾT WEBSITE

LOGO DỰ ÁN

DỰ BÁO THỜI TIẾT

THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Trực tuyến: 7
  • Hôm nay: 185
  • Hôm qua: 226
  • Tổng lượt: 187303